Những đặc trưng trong sách tác truyện ngắn của nhà văn Ai Cập Yusuf Idris

Nhà văn Yusuf Idris (1927-1991) được coi là một trong những người tiên phong đặt nền móng cho sự phát triển truyện ngắn hiện đại ở Ai Cập nói riêng và Ả rập nói chung. Những tác phẩm của ông đã mở ra cánh cửa mới cho văn đàn đất nước, ảnh hưởng đến nhiều tác giả trẻ ở thế hệ sau. Vì vậy, việc nghiên cứu những đặc trưng trong các sáng tác truyện ngắn của tác giảnày đóng vai trò quan trọng trong quá trình tìm hiểu dòng chảy phát triển văn học hiện đại ở khu vực Ả rập. Trong giới hạn cho phép, bài viết này sẽ tập trung khảo sát bốn đặc trưng chính, nổi bật trong các tác phẩm truyện ngắn của nhà văn Yusuf Idris, đó là: mâu thuẫn giữa tầng lớp giàu – nghèo, nông thôn – đô thị; biểu tượng im lặng; biểu tượng không gian khép kín và sự sử dụng sinh ngữ Ả rập Ai Cập…

Chi tiết bài viết mời các bạn tham khảo tại đường link:

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/61342

Advertisements

Tác phẩm hồi ký “Không có thần thoại” của Lee Myung Bak và những chiều kích Hofstede trong văn hóa doanh nghiệp Hàn Quốc

Hồi ký Không có thần thoại của cựu Tổng thống Lee Myung Bak, cựu Chủ tịch tập đoàn Hyundai có thể xem là một trường hợp đại diện và điển hình cho truyện ký về cuộc đời những “người hùng” của các tập đoàn Hàn Quốc. Qua một nhân vật xuất chúng mà số phận gắn bó với sự hình thành, phát triển một trong những tập đoàn hàng đầu của Hàn Quốc, Không có thần thoạigiúp chúng ta cảm hiểu nguồn sức mạnh đã làm nên “kỳ tích sông Hàn”, tính cách con người và bản sắc dân tộc Hàn nói chung; đặc điểm văn hóa doanh nhân, văn hóa doanh nghiệp Hàn Quốc nói riêng. Bài nghiên cứu này vận dụng các chiều kích Geert Hofstede để tiếp cận liên ngành tìm hiểu văn hóa doanh nghiệp Hàn Quốc dựa trên dữ liệu văn học truyện ký doanh nhân…

Chi tiết bài viết mời các bạn tham khảo tại đường link:

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/61346

Tối ưu hóa thành phần dầu ô liu trong môi trường nuôi cấy nấm Ophiocordyceps sinensis để thu nhận exopolysaccharide

Ophiocordyceps sinensis (Cordyceps sinensis) là loài nấm dược liệu quý hiếm có giá trị cao trong nền y học cổ truyền và hiện đại. Đây là loại nấm nổi tiếng chứa nhiều hợp chất sinh học có ý nghĩa như: kháng oxy hóa, kháng ung thư, giảm huyết áp, điều hòa miễn dịch và giảm cholesterol trong máu,… Tại Việt Nam, nấm đã được nuôi cấy nhân tạo lỏng tĩnh thành công và chỉ sử dụng sinh khối nấm từ năm 2013. Tuy nhiên nhiều nghiên cứu trước đây cho thấy nấm O. sinensis tiết ra nhiều exopolysaccharide (EPS) mang nhiều hoạt tính sinh học trong môi trường nuôi cấy. Do đó, nuôi cấy nấm O. sinensis nhằm tăng tổng hợp EPS là vô cùng cần thiết. Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành nuôi cấy O. sinensis trên môi trường có bổ sung dầu ô liu từ 1 – 10% (v/v) để chọn ra nồng độ dầu thích hợp cho sự phát triển của nấm và tăng quá trình sinh tổng hợp EPS, kết quả EPS thu được 5,03 ± 0,38 g/L (tăng 2,94 lần) so với đối chứng khi bổ sung 5% (v/v) dầu ô liu vào môi trường nuôi cấy. Thời gian thích hợp thu nhận EPS trong môi trường bổ sung dầu ô liu là 40 ngày. Sau đó, chúng tôi sử dụng thiết kế Plackett-Burman để kiểm tra mức độ ảnh hưởng của các yếu tố dinh dưỡng khác nhau lên quá trình tạo EPS. Trong đó, dầu ô liu, saccharose và peptone là ba yếu tố có tác động mạnh nhất. Thiết kế thí nghiệm theo phương pháp đáp ứng bề mặt Box-Behnken đã thực hiện và tìm ra giá trị tối ưu của ba yếu tố gồm dầu ô liu (5,27 %), saccharose (48,69 g/L) và peptone (6,77 g/L) cho khả năng tổng hợp EPS đạt 6,06 g/L…

Chi tiết bài viết mời các bạn tham khảo tại đường link:

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/60750

Đa dạng thành phần loài cá ở vùng cửa sông Cổ Chiên, tỉnh Bến Tre

Dựa trên kết quả định loại các mẫu cá thu được vào ba đợt khảo sát của tiểu dự án “Điều tra tổng thể đa dạng sinh học các hệ sinh thái cửa sông Việt Nam” trong năm 2011, 2012 và 2015 tại vùng cửa sông Cổ Chiên, tỉnh Bến Tre, đã xác định được 142 loài thuộc 45 họ, 11 bộ của 2 lớp cá. Trong đó, bộ cá Vược (Perciformes) chiếm ưu thế với 70 loài (chiếm 49,3%); tiếp đến là bộ cá Bơn (Pleuronectiformes) với 21 loài (chiếm 14,79%). Có 1 bộ chỉ có 1 họ với 1 loài là bộ cá Tuyết (Gadiformes). Theo các nhóm sinh thái, nhóm cá đáy chiếm ưu thế với 117 loài (chiếm 82,4%), nhóm cá nổi có 25 loài (chiếm 17,6%); nhóm cá nước lợ ưu thế hơn với 101 loài (chiếm 71,1%), nhóm cá biển có 39 loài (chiếm 27,5%) và nhóm cá nước ngọt chỉ có 2 loài (chiếm 1,4%). Nghiên cứu cũng đã xác định được 52 loài cá (chiếm 36,62%) có giá trị kinh tế cao, 1 loài có tên trong sách Đỏ Việt Nam 2007 ở mức VU và 3 loài được phân hạng NT trong Danh lục Đỏ năm 2014 của IUCN. Kết quả nghiên cứu là những dẫn liệu đầu tiên về thành phần loài cá ở vùng cửa sông Cổ Chiên…

Chi tiết bài viết mời các bạn tham khảo tại đường link:

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/60757

Dẫn liệu về thành phần loài Côn trùng nước tại Rừng đặc dụng Ngọc Linh, tỉnh Quảng Nam

Nghiên cứu được tiến hành qua 3 đợt thu mẫu vào các tháng 3.2015, tháng 9.2016 và tháng 3.2016 tại 15 điểm thu mẫu ở khu vực rừng đặc dụng (RĐD) Ngọc Linh, tỉnh Quảng Nam đã xác định được 86 loài côn trùng nước thuộc 69 giống, 40 họ, 8 bộ. Trong đó có 24 loài thuộc bộ Chuồn chuồn (Odonata), 21 loài thuộc bộ Phù du (Ephemeroptera), 13 loài thuộc bộ Cánh lông (Tricoptera), 11 loài thuộc bộ Cánh nửa (Hemiptera), 7 loài thuộc bộ Cánh úp (Plecoptera), 6 loài thuộc bộ Cánh cứng (Coleoptera), 3 loài thuộc bộ Hai cánh (Diptera) và 1 loài thuộc bộ Cánh rộng (Megaloptera). Đồng thời, kết quả nghiên cứu đã xác định được chỉ số đa dạng Shannon-Weiner (H’) tại các điểm nghiên cứu…

Chi tiết bài viết mời các bạn tham khảo tại đường link:

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/60782

Ficus squamosa Roxb. (Họ Dâu tằm – Moraceae) được ghi nhận mới cho hệ thực vật Việt Nam

Sau khi nghiên cứu các mẫu tiêu bản thuộc chi Ficus và các mẫu tiêu bản thu ngoài thực địa, chúng tôi phát hiện được loài: Ficus squamosa, một loài ghi nhận mới cho hệ thực vật Việt Nam. Bài báo sẽ giới thiệu mô tả loài, các đặc điểm sinh học sinh thái, phân bố, mẫu nghiên cứu,…

Chi tiết bài viết mời các bạn tham khảo tại đường link:

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/60785

 

Coumarin và acridon alkaloid từ rễ cây Xáo tam phân (Paramignya trimera)

Bốn coumarin là ostruthin, 8-methoxyostruthin, 7-hydroxycoumarin và 7-methoxycoumarin cùng với bốn acridon alkaloid là oriciacridon, 5-hydroxynoracronycin, citruscinin-I và glycocitrin-III, đã được phân lập từ rễ cây Xáo tam phân (Paramignya trimera). Cấu trúc của các hợp chất này được xác định bằng phổ 1D và 2D NMR. Kết quả thử hoạt tính gây độc tế bào ung thư gan HepG2 sử dụng phương pháp sulforhodamin B cho thấy các hợp chất này có hoạt tính yếu với IC50từ 30,53 đến 62,90 µg/mL…

Chi tiết bài viết mời các bạn tham khảo tại đường link:

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/61422

Đa dạng cây thuốc thuộc ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) tại khu bảo tồn thiên nhiên Tà Xùa tỉnh Sơn La

Nghiên cứu tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Tà Xùa, tỉnh Sơn La. Trên các đợt khảo sát thực địa năm 2013-2014 chúng tôi đã xác định được cây thuốc thuộc ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) gồm 124 họ, 375 chi với 503 loài. 47 loài ghi nhận trong Sách đỏ Việt Nam (2007). Đa dạng các taxon chữa 32 bệnh hoặc nhóm bệnh được đánh giá về số lượng. Dữ liệu trong bài báo đã khẳng định hệ thực vật Khu Bảo tồn thiên nhiên Tà Xùa có tính đa dạng cao. Tiềm năng cây có ích, đặc biệt là cây thuốc của vùng là rất lớn…

Chi tiết bài viết mời các bạn tham khảo tại đường link:http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/61563

Đa dạng các loài cá và tác động làm thay đổi cấu trúc thành phần cũng như nguồn lợi cá các thủy vực thuộc tỉnh Sơn La

Tài nguyên nước mặt của toàn tỉnh Sơn La hàng năm vào khoảng 19 tỷ m3 chủ yếu từ nguồn nước mưa tích trữ vào hai hệ thống sông chính là: Sông Đà (đoạn chảy qua Sơn La dài 250 km); Sông Mã (đoạn chảy qua Sơn La dài 93 km). Bên cạnh 2 sông chính, tỉnh Sơn La còn có 35 con suối lớn, hàng trăm con suối nhỏ nằm trên địa hình dốc với nhiều thác nước. Thành phần loài cá trong hệ thống sông suối, hồ ao tỉnh Sơn La rất đa dạng và phong phú với khoảng có 157 loài thuộc 23 họ, 10 bộ. Tuy nhiên, việc nghiên cứu khu hệ cá cũng như nuôi trồng và khai thác thủy sản tại đây còn rất hạn chế. Do khai thác tài nguyên thủy sản quá mức, do các sông suối bị ngăn cách bởi các đập thủy điện lớn nhỏ, tác động của biến đổi khi hậu làm thay đổi mực nước các sông, suối mà các loài cá quý hiếm có giá trị kinh tế ngày một ít, giảm về số lượng cũng như kích cỡ cá thể. Các loài cá tự nhiên ưa nước chảy bị thay thế bởi các loài cá nuôi và cá ưa nước chảy chậm hoặc nước tĩnh…

Chi tiết bài viết mời các bạn tham khảo tại đường link:

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/10176

Động vật hoang dã với chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam

Viet Nam has a rich diversity of mammals and bird, reptile, amphibian, fish and many of them are regional or national endemic species. Many species of fauna are important to sustainable development of the country. Before the 1970s, forest types were diverse with abundance of wild animals such as elephant, rhino, tiger, wild cows and buffaloes, reptiles and so on. But now it’s difficult to observe them in natural reserves, even in national parks. Unsustainable use of zoo resources is one of the main reason of wildlife loss. This paper presents the author’s proposals for wildlife conservation measures. They includes: (1) continuity for surveys and inventories to have an accurate assessment of zoo diversity in all the nature reserves; (2) establishment of strict conservation habitats areas; (3) organizing search for rare and endangered species; (4) limit and end legal trade of endangered species; (5) practicing settlement cultivation policy; (6) supporting buffer zones – especially where the minority people stay; and (7) establishing international cooperation with the neighboring countries, including Laos, Cambodia, Thailand, and China…

Chi tiết bài viết mời các bạn tham khảo tại đường link:

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/10179