Nghiên cứu phương pháp xác định tuổi sinh lí của muỗi (Diptera Culicidae) và ứng dụng trong nghiên cứu sinh thái học, dịch tễ và phòng chống một số quần thể vector quan trọng ở Việt Nam : Luận án PTS. Sinh học: 01 05 14

Authors: Phạm, Bình Quyền, Ngườì hướng dẫn
Đỗ, Sĩ Hiển, Ngườì hướng dẫn
Trần, Thị Hoà

Muỗi là một nhóm sinh vật thuộc lớp côn trùng hợp thành họ Culicidae, thuộc bộ hai cánh. Chúng có một đôi cánh cứng, một cái vòi dài dùng để hút máu, thân mỏng và chân dài. Kích thước thay đổi theo loài, trung bình khoảng 2-2,5 mg và có thể bay với tốc độ 1,5-2,5 km/h. Hiện nay, có khoảng 150 loài với 12 giống khác nhau, nhưng chỉ có một vài loài mang bệnh, chúng sinh trưởng trong các đầm lầy, ao hồ hoặc các vũng nước đọng. Muỗi đực hút nhựa cây hoặc trái cây để sống, còn muỗi cái thì hút thêm máu người để bổ sung protein nuôi dưỡng trứng…

Title: Nghiên cứu phương pháp xác định tuổi sinh lí của muỗi (Diptera Culicidae) và ứng dụng trong nghiên cứu sinh thái học, dịch tễ và phòng chống một số quần thể vector quan trọng ở Việt Nam : Luận án PTS. Sinh học: 01 05 14
Authors: Phạm, Bình Quyền, Ngườì hướng dẫn
Đỗ, Sĩ Hiển, Ngườì hướng dẫn
Trần, Thị Hoà
Keywords: Côn trùng;Diptera Culicidae;Dịch tễ;Muỗi;Sinh thái học;Việt Nam
Issue Date: 1994
Publisher: ĐHTHHN
Abstract: 127 tr.
Xây dựng phương pháp xác định tuổi sinh lí muỗi bằng việc mổ – nhuộm buồng trứng nguyên vẹn trong dung dịch đỏ trung tính 1/8000. Thử nghiệm phương pháp đề xuất tại một số thực địa nhằm đánh giá độ tin cậy của phương pháp dựa trên kết quả nghiên cứu của 4 (…)
Luận án PTS. Côn trùng học — Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1994
Electronic Resources
URI: http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/37251
Appears in Collections: HUS – Dissertations

 

Mô hình tính: Gió, áp suất, nhiệt độ, độ ẩm trong khí quyển : Luận án PTS. Cơ học: 2 02 02

Authors: Trần, Gia Lịch, Người hướng dẫn
Lê, Văn Thành

Nêu tổng quan về tình hình nghiên cứu mô hình khí tượng. Nghiên cứu thuật toán giải mô hình, kỹ thuật lập chương trình tính. Bước đầu đã giải quyết vấn đề biên khí quyển sát mặt đất, kiểm nghiệm mô hình và ứng dụng mô hình thử nghiệm cho một khu vực cụ thể…

Title: Mô hình tính: Gió, áp suất, nhiệt độ, độ ẩm trong khí quyển : Luận án PTS. Cơ học: 2 02 02
Authors: Trần, Gia Lịch, Người hướng dẫn
Lê, Văn Thành
Keywords: Cơ học ứng dụng;Mô hình toán khí tượng;Quan trắc khí tượng
Issue Date: 2002
Publisher: ĐHQGHN
Abstract: Luận văn ThS. Cơ học ứng dụng — Trung tâm hợp tác đào tạo và bồi dưỡng cơ học. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002
Nêu tổng quan về tình hình nghiên cứu mô hình khí tượng. Nghiên cứu thuật toán giải mô hình, kỹ thuật lập chương trình tính. Bước đầu đã giải quyết vấn đề biên khí quyển sát mặt đất, kiểm nghiệm mô hình và ứng dụng mô hình thử nghiệm cho một khu vực cụ thể
Electronic Resources
97 tr.
URI: http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/37262
Appears in Collections: HUS – Dissertations

Siêu đồ thị và lược đồ cơ sở dữ liệu phi chu trình : Luận án TS. Toán học: 1 01 10

Authors: Hồ, Thuần, Người hướng dẫn
Đặng, Huy Ruận, Người hướng dẫn
Nguyễn, Văn Định

Trong toán học,một siêu đồ thị là sự tổng quát của 1 đồ thị trong đó một cạnh có thể nối với bất kỳ đỉnh nào. Về mặt hình thức, một siêu đồ thị H là một cặp {\displaystyle H=(X,E)}X là một tập hợp của các yếu tố được gọi là các nút hay đỉnh,và E là một tập hợp các tập con khác rỗng của X gọi là siêu cạnh hoặc cạnh. Do đó,E là một tập hợp con của {\displaystyle {\mathcal {P}}(X)\setminus \{\emptyset \}}, mà {\displaystyle {\mathcal {P}}(X)} là power set của X
Trong khi cạnh đồ thị là các cặp nút,siêu cạnh là bộ tùy ý của các nút. Do đó có thể chứa một số lượng tùy ý các nút. Tuy nhiên nó thường là mong muốn để nghiên cứu các siêu đồ thị, nơi mà tất cả siêu cạnh có cùng hướng, một siêu đồ thị k cùng kiểu dữ liệu là một siêu đồ thị như là tất cả siêu cạnh của nó có kích thước k (Nói cách khác, nó là một sự kết hợp các bộ kích thước k). Vì vậy, siêu đồ thị có 2 đồng dạng là một đồ thị. Siêu đồ thị có 3 đồng dạng cùng kiểu dữ liệu là sự kết hợp tập hợp tập bộ ba không có thứ tự,và tiếp tục như vậy…

Title: Siêu đồ thị và lược đồ cơ sở dữ liệu phi chu trình : Luận án TS. Toán học: 1 01 10
Authors: Hồ, Thuần, Người hướng dẫn
Đặng, Huy Ruận, Người hướng dẫn
Nguyễn, Văn Định
Keywords: Lược đồ CSDL;Siêu đồ thị;Thuật toán;Toán học tính toán;Tối ưu hoá
Issue Date: 2004
Publisher: ĐHKHTN
Abstract: 121 tr
Trình bày cơ sở lý luận vê mô hình dữ liệu quan hệ, trình bày một số khái niệm về siêu đồ thị của lược đồ CSDL và các điều kiện tương đương của lược đồ CSDL phi chu trình. Đi sâu nghiên cứu và phân loại các lược đồ với các đặc tính riêng biệt của mỗi lớp, (…)
Electronic Resources
Luận án TS. Đảm bảo toán học cho máy tính và các hệ thống tính toán — Trường Đại học Khoa học Tự nhiên. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004
URI: http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/37271
Appears in Collections: HUS – Dissertations

Nghiên cứu vi khuẩn trong chất nhầy san hô ở hai quần đảo Cát Bà và Long Châu, Việt Nam: Luận án TS. Sinh học: 62 42 01 07

Authors: Bùi, Thị Việt Hà
Phạm, Thế Thư

Hệ sinh thái nhiệt đới hiện đang trong trạng thái cân bằng mong manh khi khí hậu đang thay đổi. San hô là các sinh vật đơn bào dạng ống có lên polyp có thể tạo ra bộ xương bên ngoài bằng canxi cacbonat. Chúng đang bị đe dọa nghiêm trọng khi môi trường sống đang cận kề với giới hạn trên của nhiệt độ mà chúng có thể chịu đựng. Chúng rất dễ bị tổn thương ngay cả khi nhiệt độ chỉ tăng 1 đến 2 độ trên mức bình thường của mùa hè một chút.

Tiến sĩ John Bythell – nhà sinh vật học thuộc Đại học Newcastle – cho biết: “Rất nhiều san hô chết sau giai đoạn san hô bạc màu. Năm 1990 đã có những vùng san hộ rộng lớn bị hủy hoại khiến số lượng san hô trên thế giới giảm 17%. Nguyên nhân có thể xuất phát từ những thay đổi ở các vi sinh vật sống trong và xung quanh rặng san hô. Những vi sinh vật này cũng giống như vi khuẩn sống trong ruột chúng ta và giúp chúng ta tiêu hóa thức ăn”

Title: Nghiên cứu vi khuẩn trong chất nhầy san hô ở hai quần đảo Cát Bà và Long Châu, Việt Nam: Luận án TS. Sinh học: 62 42 01 07
Authors: Bùi, Thị Việt Hà
Phạm, Thế Thư
Keywords: Vi sinh vật học
Issue Date: 2015
Publisher: ĐHKHTN
Abstract: Luận án TS. Vi sinh vật học — Trường Đại học Khoa học Tự nhiên. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015
URI: http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/37350
Appears in Collections: HUS – Dissertations

Tiên phong đào tạo về nhân quyền

Authors: Lan Vũ

Gần đây nhất, ngày 31.7.2013, Hạ viện Mỹ đã thông qua Dự luật Nhân quyền Việt Nam 2013 mang số hiệu H.R.1897, tiếp tục cáo buộc Việt Nam vi phạm nhân quyền, vi phạm quyền tự do tôn giáo, tự do dân chủ; kêu gọi Chính phủ Mỹ gắn các điều kiện về nhân quyền với viện trợ phi nhân đạo cho Việt Nam. Đây là một hành động xuyên tạc trắng trợn, nhằm bôi nhọ Việt Nam trên trường quốc tế, gây chia rẽ, mất đoàn kết trong nước để lấy cớ can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

     Vậy thực chất “vấn đề nhân quyền ở Việt Nam” hiện nay là gì? Phải nói ngay rằng, đối với Việt Nam hoàn toàn không có “vấn đề nhân quyền”. Từ khi thành lập đến nay, Nhà nước Việt Nam luôn bảo đảm quyền con người và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong việc bảo đảm quyền con người trên tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Quyền con người được phát huy là yếu tố quan trọng góp phần vào thành công của công cuộc đổi mới ở Việt Nam những năm qua.
“Vấn đề nhân quyền ở Việt Nam” hiện nay thực chất nằm ở âm mưu chính trị đen tối của Mỹ và các nước phương Tây. Như mọi người đều biết, nhân quyền, hay quyền con người (Human Rights) là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thoả thuận pháp lý quốc tế. Nhân quyền là một trong những thành quả lớn lao của nền văn minh nhân loại, là giá trị mà các quốc gia dân tộc có thể chia sẻ. Quyền con người là quyền của mọi thành viên trong cộng đồng nhân loại, vừa mang tính phổ quát toàn thế giới lại mang tính lịch sử cụ thể.

Tính phổ quát của quyền con người ở mỗi quốc gia, không kể hoàn cảnh lịch sử, chế độ chính trị – xã hội, kinh tế và văn hoá đều có những giá trị chung giống nhau, không thể chia cắt và phụ thuộc lẫn nhau. Hội nghị toàn thế giới về nhân quyền tại Viên năm 1993 đã khẳng định: Tất cả các quyền con người đều mang tính phổ cập, không chia cắt, phụ thuộc lẫn nhau và liên quan với nhau…

Title: Tiên phong đào tạo về nhân quyền
Authors: Lan Vũ
Keywords: Giáo dục đại học;Pháp Luật;Nhân quyền
Issue Date: 2015
Publisher: H. : ĐHQGHN
Citation: Số 294 – Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội
Description: TNS04922 ; 4 tr.
URI: http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/24859
Appears in Collections: VNU Bulletin

Công nghệ loại bỏ Asen độc đáo ở Việt Nam

Authors: Gia, Hân

Về tính chất hóa học, asen là một nguyên tố hóa học không màu, không mùi, không vị do vậy người sử dụng không thể nhận biết bằng mắt thường. Dựa trên những đặc tính trên, HCTH đã nghiên cứu ra bộ kiểm tra nhanh độc tố asen trong nước với tên gọi ArsenCHECK. Việc kiểm tra có thể tự tiến hành một cách dễ dàng và cho kết quả trong 10 phút, kết quả xác định bằng mắt thường.
Đây là sản phẩm mang tính ứng dụng rất cao và cần thiết cho cuộc sống của người dân ở những khu vực có nồng độ nhiễm asen nặng…

Title: Công nghệ loại bỏ Asen độc đáo ở Việt Nam
Authors: Gia, Hân
Keywords: ô nhiễm Asen;Xử lý nước ngầm;Công nghệ;Khoa học môi trường;Trường Đại học Tự nhiên
Issue Date: 2016
Publisher: H. : Đại học Quốc gia
Citation: Số 298 + 299 – Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội
Description: TNS04863 ; 2 tr.
URI: http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/24889
Appears in Collections: VNU Bulletin

Đâu là cái gốc của đói nghèo

Authors: Nguyễn, Đức Thành

Angus Deaton là nhà kinh tế gốc Scotland, mang cả quốc tịch Anh và Mỹ, dành phần lớn thời gian trong sự nghiệp học thuật của mình tại Đại học Princeton, Mỹ. Ông khởi đầu sự nghiệp với mối quan tâm sâu về kinh tế vi mô, nghiên cứu hành vi của đường cầu, và dành nhiều công sức cho việc thiết kế và phân tích các cuộc điều tra hộ gia đình.
Những khám phá về các hành vi của con người trong thực tiễn đã thúc đẩy ông đi tới các vấn đề phát triển căn bản như đói nghèo, ý tế, sức khỏe, bất bình đẳng, tăng trưởng kinh tế, v.v…. Đúng như kinh tế gia bậc thầy Robert Lucas (nhận giải Nobel Kinh tế năm 1995) từng nói, khi anh bắt đầu nghiên cứu về kinh tế phát triển, anh chẳng muốn tìm hiểu về cái gì khác nữa.
Trong cuộc phiêu lưu truy tầm câu trả lời cho những vấn đề phát triển căn bản nhất, như nguồn gốc của sự tăng trưởng, nguồn gốc của bất bình đẳng giữa các cá nhân và xã hội, Deaton đã dấn thân vào cuộc hành trình đi ngược lại toàn bộ quá trình phát triển của loài người, xuyên qua các nền văn minh và thời đại, sử dụng kiến thức liên ngành của nhiều môn khoa học…

Title: Đâu là cái gốc của đói nghèo
Authors: Nguyễn, Đức Thành
Keywords: Xã hội;Nghèo đói
Issue Date: 2017
Publisher: H.: ĐHQGHN
Citation: Số 312 – Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội
Description: TNS05120; 4 tr.
URI: http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/24932
Appears in Collections: VNU Bulletin

Metabolic engineering of monoterpene biosynthesis in tomato fruits via introduction of the non-canonical substrate neryl diphosphate

Authors: Gutensohn, Michael;
Nguyen, Thuong T.H.
McMahon, Richard D
Kaplan, Ian;
Pichersky, Eran;
Dudareva, Natalia

Recently it was shown that monoterpenes in tomato trichomes (Solanum lycopersicum) are synthesized by phellandrene synthase 1 (PHS1) from the non-canonical substrate neryl diphosphate (NPP), the cis-isomer of geranyl diphosphate (GPP). As PHS1 accepts both NPP and GPP substrates forming different monoterpenes, it was overexpressed in tomato fruits to test if NPP is also available in a tissue highly active in carotenoid production. However, transgenic fruits overexpressing PHS1 produced only small amounts of GPP-derived PHS1 monoterpene products, indicating the absence of endogenous NPP. Therefore, NPP formation was achieved by diverting the metabolic flux from carotenoids via expression of tomato neryl diphosphate synthase 1 (NDPS1). NDPS1 transgenic fruits produced NPP-derived monoterpenes, including nerol, neral and geranial, while displaying reduced lycopene content. NDPS1 co-expression with PHS1 resulted in a monoterpene blend, including β-phellandrene, similar to that produced from NPP by PHS1 in vitro and in trichomes. Unexpectedly, PHS1×. NDPS1 fruits showed recovery of lycopene levels compared to NDPS1 fruits, suggesting that redirection of metabolic flux is only partially responsible for the reduction in carotenoids. In vitro assays demonstrated that NPP serves as an inhibitor of geranylgeranyl diphosphate synthase, thus its consumption by PHS1 leads to recovery of lycopene levels. Monoterpenes produced in PHS1×. NDPS1 fruits contributed to direct plant defense negatively affecting feeding behavior of the herbivore Helicoverpa zea and displaying antifungal activity against Botrytis cinerea. These results show that NPP-derived terpenoids can be produced in plant tissues; however, NPP has to be consumed to avoid negative impacts on plant metabolism.

Title: Metabolic engineering of monoterpene biosynthesis in tomato fruits via introduction of the non-canonical substrate neryl diphosphate
Authors: Gutensohn, Michael;
Nguyen, Thuong T.H.
McMahon, Richard D
Kaplan, Ian;
Pichersky, Eran;
Dudareva, Natalia
Keywords: Carotenoids;Direct plant defense;Geranylgeranyl diphosphate synthase;Monoterpenes;Neryl diphosphate;Tomato
Issue Date: 2014
Publisher: Metabolic Engineering
Citation: Scopus
Description: Metabolic Engineering, Volume 24, July 2014, Pages 107-116
Metabolic Engineering
URI: http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1096717614000676
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/33954
ISSN: 10967176
Appears in Collections: Bài báo của ĐHQGHN trong Scopus

Scénario didactique en sciences : le modèle de tâches hiérarchiques

Authors: GARLATTI, Serge
BUI, Kim Uyen

Les scénarios didactiques sont de plus en plus utilisés dans un système de E-learning ou un Environnement Informatique pour l’Apprentissage Humain (EIAH). Notre projet MODALES a pour but de créer un environnement contenant des scénarios didactiques qui permet à des enseignants d’apprendre leur métier en réalisant des séquences de formation. Autrement dit, son objectif est de mettre l’apprenant dans un contexte d’apprentissage actif lors de la résolution de problème dans le cadre d’une formation en ligne. En plus concret, il mettra l’apprenant en situation d’éprouver sa capacité à analyser un problème, à bâtir une stratégie de résolution, à opérer des choix par rapport au problème à résoudre (choisir la problématique, sélectionner des ressources, des documents,…) En effet, il existe plusieurs façons pour modéliser ou représenter des scénarios didactiques dans un système EIAH. Dans le cadre de notre projet, nous nous intéressons d’utiliser le modèle de tâches hiérarchiques pour représenter des scénarios didactiques. Le principe de ce modèle est de décomposer une tâche au niveau d’abstraction plus générale en des sous tâches plus détails jusqu’à des tâches élémentaire, c’est-à-dire, des tâches peuvent être réalisées par une simple procédure. L’apprenant doit suivre et achever tous les sous tâches selon une expression de contrôle. Avec ce modèle, l’apprenant peut avoir une vue d’ensemble (overview en anglais) sur où il commencera, il lui reste combien de tâches à accomplir …

Title: Scénario didactique en sciences : le modèle de tâches hiérarchiques
Authors: GARLATTI, Serge
BUI, Kim Uyen
Keywords: Scénario didactique;modèle de tâches hiérarchiques;ontologies;moteur de composition;document virtuel adaptatif
Issue Date: 2007
URI: http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/169
Appears in Collections: IFI – Master Theses

Trí thức hóa đội ngũ công nhân ở Hà Nội thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Authors: Đào, Thị Tươi

Nghị quyết 20 khẳng định: “Ðào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt cho công nhân, không ngừng trí thức hóa giai cấp công nhân là một nhiệm vụ chiến lược…”. Xác định rõ vai trò quan trọng trực tiếp được Ðảng giao, với chức năng nhiệm vụ của mình, 5 năm qua, các cấp công đoàn Thủ đô Hà Nội đã kiên trì phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, chủ động tích cực phát huy vai trò, từng bước đổi mới nâng cao hiệu quả công tác công đoàn, góp phần quan trọng, từng bước xây dựng đội ngũ công nhân viên chức, lao động (CNVCLÐ) Thủ đô ngày càng lớn mạnh.
Trí thức hóa giai cấp công nhân là vấn đề cấp thiết, song không thể nóng vội, một sớm, một chiều. Nhất là trong giai đoạn suy thoái kinh tế còn tiếp tục như hiện nay, không ít công nhân, lao động (CNLÐ) “nặng” tâm lý với nỗi lo cơm, áo, gạo tiền hơn là việc đi học nhằm nâng cao trình độ, kiến thức, tay nghề, tác phong công nghiệp. Nguyên nhân được xác định do công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, ý thức tự giác, tích cực học tập, nâng cao học vấn, tay nghề cho CNLÐ trực tiếp còn hạn chế. Bên cạnh đó, còn nhiều “rào cản” như chủ doanh nghiệp (DN) chỉ quan tâm lợi nhuận kinh tế, chưa tạo điều kiện cho CNLÐ đi học.

Title: Trí thức hóa đội ngũ công nhân ở Hà Nội thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Authors: Đào, Thị Tươi
Keywords: Trí thức hóa
Issue Date: 2014
Publisher: H. : ĐHQGHN
Citation: 109 tr.
URI: http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/3985
Appears in Collections: IFI – Master Theses